Nguồn Havardgazette: http://news.harvard.edu/gazette/story/2017/04/over-nearly-80-years-harvard-study-has-been-showing-how-to-live-a-healthy-and-happy-life/ - Bài của tác giả Liz Mineo

Dịch sang Tiếng Việt: Nguyên Châu

Hiệu Đính: Minh Trung

Một công trình nghiên cứu đã có bề dày hơn 80 năm của trường Đại học Harvard đã chứng minh rằng việc sống chan hoà cùng cộng đồng giúp cho chúng ta sống lâu hơn và hạnh phúc hơn.

 

Bài thứ hai trong chuỗi những nghiên cứu đặc biệt về cách những nhà nghiên cứu của trường Harvard khắc phục những vấn đề về khó khăn của quá trình lão hoá.

 

Khi mà những nhà khoa học bắt đầu theo dõi tình trạng sức khoẻ của 268 sinh viên năm hai của trường Harvard vào năm 1938, trong cuộc Đại khủng hoảng kinh tế, họ đã hy vọng rằng một cuộc nghiên cứu lâu dài có thể hé lộ những manh mối dẫn đến một đời sống lành mạnh và vui vẻ.

 

Họ đã đạt được nhiều hơn điều mà họ mong muốn.

 

Sau khi theo dõi những người đàn ông thuộc dòng họ Crimson hiện còn sống trong suốt gần 80 năm qua, vốn là một phần trong cuộc nghiên cứu về tiến trình phát triển của người trưởng thành do trường Harvard tiến hành- một trong những cuộc nghiên cứu kéo dài nhất thế giới liên quan đến cuộc sống của những người trưởng thành; những nhà nghiên cứu đã thu thập được một số lượng đáng kể thông tin về tình trạng thể chất và tinh thần của họ.

 

Trong nhóm những người tham gia được trường Harvard ban đầu chọn vào Nhóm Nghiên Cứu Grant (Grant Study), chỉ còn 19 người hiện còn sống và họ đang ở trong độ tuổi 90. Trong những thành viên ban đầu này, có những nhân vật kì cựu là Cựu tổng thống Mỹ John F. Kennedy và nhà Biên tập lâu năm của Washington Post ông Ben Bradlee. (Những người phụ nữ không tham gia vào cuộc nghiên cứu này lúc đầu vì tại thời điểm đó trường đại học chỉ có sinh viên nam.)

 

Ngoài ra, những nhà khoa học cuối cùng cũng mở rộng cuộc nghiên cứu của họ trên cả con cái của những thành viên tham gia ban đầu, với số lượng hiện tại là 1,300 và họ hiện đều đang ở vào độ tuổi 50 và 60, để có thể tìm ra sự tác động của những trải nghiệm cuộc sống lúc nhỏ lên sức khoẻ và sự lão hoá qua thời gian. Một số những người tham gia đã trở thành những nhà doanh nhân, bác sĩ, luật sư thành đạt, trong khi một số khác lại trở thành những bệnh nhân tâm thần hoặc những người nghiện rựu, nhưng không phải tự nhiên mà thành ra thế này.

 

Trong những thập kỷ qua, số lượng các nhóm đối tượng nghiên cứu đã tăng đáng kể. Trong những năm 70, 456 công dân tại thành phố Boston đã tham gia vào cuộc nghiên cứu Glueck, và chỉ còn 40 người còn sống đến hiện nay. Hơn một thập kỷ trước, những nhà nghiên cứu đã bắt đầu thêm vào những người vợ của cả hai nhóm đối tượng trong nghiên cứu Grant và Glueck.

 

Qua nhiều năm, các nhà nghiên cứu tìm hiểu về tình trạng sức khoẻ và đời sống tổng quát cùa những người tham gia, bao gồm những thành công và thất bại của họ trong sự nghiệp và hôn nhân, và các kết quả nghiên cứu đem đến những bài học làm kinh ngạc không chỉ những nhà nghiên cứu này.”

 

“Điều đáng ngạc nhiên được tìm thấy là những mối quan hệ của chúng ta và mức độ hạnh phúc chúng ta cảm thấy trong những mối quan hệ đó có một sự ảnh hưởng mãnh liệt đến chính sức khoẻ của chúng ta,” ông Robert Waldinger, giám đốc của cuộc nghiên cứu, nhà tâm thần học tại Bệnh viện Đa Khoa Massachusetts và là giáo sư ngành thần kinh học tại trường Y khoa Harvard. “Chú ý giữ gìn sức khoẻ là quan trọng, nhưng quan tâm đến những mối quan hệ của chính bạn cũng là một phương thức tự chăm sóc bản thân. Tôi nghĩ đây chính là mấu chốt.”

 

 

“Những người cảm thấy hài lòng tuyệt đối với những mối quan hệ của họ trong độ tuổi 50, là những người khoẻ mạnh nhất trong độ tuổi 80,” giáo sư Robert Waldinger và người vợ của ông bà Jennifer Stone chia sẻ. Ảnh của Lincoln/nhân viên ảnh của Havard.

 

Cuộc nghiên cứu cho thấy những mối quan hệ thân thiết, còn hơn cả tiền bạc và danh vọng, là thứ làm cho mọi người càm thấy hạnh phục xuyên suốt cả cuộc đời họ. Những sự gắn bó này bảo vệ mọi người khỏi những điều không vui trong cuộc sống, giúp họ làm chậm lại những suy nhược tinh thần và thể chất, và còn là những điềm báo cho những đời sống lâu dài và hạnh phúc, tuyệt vời hơn cả tầng lớp xã hội, chỉ số thông minh, hay gien di truyền. Điều này được chứng minh là đúng cho cả nhóm sinh viên ban đầu của trường Harvard và nhóm công dân thành thị Boston và vợ của họ.

 

Cuộc nghiên cứu dài này đã nhận được tiền tài trợ từ những quỹ tư nhân, nhưng hiện còn được nguồn hỗ trợ tài chính lớn từ Học viện Quốc gia về Sức khoẻ- National Institutes of Health, ban đầu là từ Học viện Quốc gia Thần Kinh Học - National Institute Mental Health, và gần đây hơn là từ Học viện Quốc gia về Lão hoá- National Institute on Aging.

 

Các nhà nghiên cứu, những người đã xem xét kĩ những tài liệu, bao gồm một số lượng lớn bệnh án sức khoẻ và hàng trăm buổi phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp qua các bảng câu hỏi, đều thấy một sự liên kết mạnh mẽ giữa cuộc sống lành mạnh của những người đàn ông và những mối quan hệ với gia đình, bạn bè, và cộng đồng của họ. Một số mối quan hệ vào độ tuổi 50 còn là điều dự báo cho tình hình thể chất tốt hơn cả mức cholesterol.

 

“Khi chúng tôi thu thập hết tất cả mọi thứ chúng tôi biết về những người trong độ tuổi 50, lượng cholesterol trong độ tuổi trưởng thành không phải là thứ dự đoán họ sẽ bị lão hoá như thế nào,” giáo sư Waldingwe chia sẻ trong buổi nói chuyện của TED Talk. “Mà là mức độ họ cảm thấy hài lòng về những mối quan hệ của họ. Những người, trong độ tuổi 50, cảm thấy hài lòng nhất trong những mối quan hệ của họ, là những người sống khoẻ nhất cho đến tận 80 tuổi.”

 

Giáo sư đã quay lại buổi nói chuyện trên TED Talk của mình, với tiêu đề “Điều gì làm nên một cuộc sống tốt đẹp? Bài học từ cuộc nghiên cứu dài nhất về Hạnh phúc,” năm 2015, và đã nhận được 13,000,000 lượt xem.

 

Các nhà nghiên cứu cũng nhận ra rằng sự hài lòng trong hôn nhân cũng rất có hiệu quả trong việc giữ vững tinh thần của con người. Một phần của cuộc thí nghiệm cho thấy những người có cuộc hôn nhân hạnh phúc trong độ tuổi 80, thường nói tâm trạng của họ chẳng phải chịu tổn thương nào, ngay cả vào những ngày họ phải chịu những đau đớn thể xác. Những người có đời sống hôn nhân không hạnh phúc cảm thấy đau đớn nhiều hơn về mặt tinh thần lẫn thể xác.

 

Giáo sư Waldinger nói, những người, giữ ấm được những mối quan hệ, thì sống lâu hơn và vui vẻ hơn, và những người cô đơn thường sẻ chết sớm hơn. “Nỗi cô đơn giết họ,” giáo sư nói. “Nó mạnh như là việc hút thuốc và nghiện rượu.”

 

Theo cuộc nghiên cứu, những người sống lâu và giữ sức khoẻ tốt, họ tránh thuốc lá và rượu ở mức tối đa. Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy rằng những người có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ xa hội, thì có biểu hiện suy thoái thần kinh ít hơn khi họ già đi.

 

Trong một nghiên cứu mới đây, các nhà nghiên cứu thấy rằng những người phụ nữ cảm thấy có sự gắn kết chắc chắn với người bạn đời của họ, thì ít bị suy sụp và thường cảm thấy vui vẻ hơn trong những mối quan hệ của họ trong hai năm rưỡi sau, và cũng có trí nhớ tốt hơn những người thường có mâu thuẫn trong hôn nhân.

 

“Những mối quan hệ lành mạnh không chỉ bảo vệ cơ thể, mà chúng còn bảo vệ não bộ của chúng ta,” giáo sư Waldinger đã chia sẻ trong buổi nói chuyện trên TED Talk. “Và những mối quan hệ lành mạnh đó không bắt buộc phải luôn luôn tốt đẹp. Một số những cặp đôi bát tuần có những tranh cãi vặt với nhau từ ngày này sang ngày khác, nhưng miễn sao họ vẫn cảm thấy có thể nương tựa lẫn nhau trong lúc khó khăn, những tranh cãi đó không làm họ bận tâm.”

 

Vì việc lão hoá bắt đầu ngay từ khi con người chào đời, mọi người nên bắt đầu chú ý chăm sóc bản thân họ từ sớm, các nhà nghiên cứu nói.

 

“Lão hoá là một quá trình liên tục,” giáo sư Waldinger nói. “Bạn có thể thấy mọi người bắt đầu có sự khác nhau trong tình trạng sức khoẻ của họ khi họ trong độ tuổi 30, nên bằng việc chú ý giữ sức khoẻ của chính mình từ sớm, bạn có thể đẩy sức khoẻ của mình lên mức tốt hơn trong quá trình lão hoá. Lời khuyên tốt nhất tôi có thể cho bạn là ‘Hãy chăm sóc cơ thể của bạn như thể bạn cần đến nó cho 100 năm,’ vì có thể bạn thực sự cần như vậy.”

 

Cuộc nghiên cứu đã trải qua bốn đời giám đốc quản lý chương trình, và họ đã sống rất thọ, cũng giống như chính những đối tượng nghiên cứu từ ban đầu đến nay của họ. Những nhiệm kỳ của họ đều phản ánh những quan tâm về y tế và quan điểm của thời đại họ sống.

 

Dười thời kì của vị giám đốc thứ nhất, ông Clark Heath, người đã tại vị từ năm 1938 đến 1954, cuộc nghiên cứu đã phản ánh quan điểm thống trị của thời đại về di truyền học và thuyết định tính sinh học. những nhà nghiên cứu tại thời kì này tin rằng cấu tạo vật chất, trí tuệ, và tính cách quyết định sự phát triển của người trưởng thành. Họ đã thực hiện chi tiết các phép đo nhân trắc cầu sọ, khoảng cách lông mày, và những nốt ruồi, đồng thời ghi chép tỉ mỉ về chức năng của các cơ quan tế bào chính, kiểm tra hoạt động của não nhờ vào điện phổ quang, và ngay cả phân tích chữ viết tay của những đối tượng được nghiên cứu.

 

Bây giờ, các nhà khoa học lấy máu của những người đàn ông tham gia nghiên cứu để kiểm tra DNA và rồi sử dụng MRI scanners để kiểm tra các cơ quan và tế bào mô trong cơ thể của họ. Toàn bộ quá trình này có thể nghe như là tiểu thuyết khoa học viễn tưởng vào những năm 1938. Trong hoàn cảnh đó thì cuộc nghiên cứu này đã đại diện cho những thay đổi lịch sử mà cuộc sống mang đến.

 

Nhá tâm thần học George Vaillant, người đã gia nhập đội ngũ nghiên cứu vào năm 1966, đã hướng dẫn cuộc nghiên cứu từ năm 1972 đến 2004. Được đào tạo như một nhà phân tâm học, ông Vaillant nhấn mạnh vai trò của những mối quan hệ, và nhận thấy vai trò này rất quan trọng trong việc làm cho con người sống lâu và an lành hơn.

 

Trong một cuốn sách tên “Aging Well” – tạm dịch “lão hoá tốt là như thế nào”- ông Vaillant đã ghi rằng sáu yếu tố có thể được dựa vào để dự đoán tình trạng của quá trình lão hoá cho những người đàn ông đến từ Harvard là: hoạt động thể chất, không bia rượu và thuốc lá, có sự chín chắn để đối diện với những thăng trầm của cuộc sống, và đang có một cân nặng tốt và một cuộc hôn nhân ổn định. Đối với những người công dân nam bình thường khác trong thành thị, giáo dục là một yếu tố bổ sung. “Những công dân này càng có học thức cao, họ càng có nhiều khả năng ngưng hút thuốc, ăn uống hợp lý, và uống rượu bia có chừng mực,” Ông Vaillant đã viết.

 

Cuộc nghiên cứu của nhà phân tâm học Vaillant đã nêu bật vai trò của những yếu tố giúp cho quá trình lão hoá tốt. Càng nhiều yếu tố những đối tượng nghiên cứu có trong thực tế, thì tỷ lệ họ có cuộc sống dài và hạnh phúc càng cao.

 

 “Khi mà cuộc nghiên cứu bắt đầu, không một ai quan tâm đến sự thấu hiểu hay gắn kết. Nhưng chìa khoá để có một quá trình lão hoá tốt chính là các mối quan hệ, các mối quan hệ, các mối quan hệ.” – George Vaillant

 

Cuộc nghiên cứu cũng cho thấy vai trò của gien di truyền học và việc có tổ tiên sống thọ, ít có ảnh hưởng đến tuổi thọ hơn so với mức độ hài lòng với những mối quan hệ trong độ tuổi trung niên, một thứ hiện nay được xem là một yếu tố tốt dự đoán về tình trạng lão hoá. Cuộc nghiên cứu cũng làm rõ cái suy nghĩ rằng tính cách của con người trước độ tuổi 30 sẽ “chắc như thạch cao” và không thể nào thay đổi.

 

“Đối với những người đã bị suy sụp khi mà họ trong độ tuổi 20 hay 25, lại trở thành những ông cụ tuyệt vời trong độ tuổi bát tuần,” nhà phân tâm học nói. “Mặc khác, nghiện rượu và trầm cảm nghiêm trọng có thể làm những người bắt đầu cuộc sống như một ngôi sao và khiến cho họ lúc cuối đời như những con tàu đổ nát.”

 

Là vị giám đốc thừ tư của cuộc nghiên cứu, giáo sư Waldinger đã mở rộng diện nghiên cứu đến những người vợ và con cái của những người đàn ông lúc ban đầu. Nó trở thành cuộc nghiên cứu thế hệ hai, và giáo sư Waldinger hi vọng mở rộng nó đến cả thế hệ thứ ba và thứ tư. “Nó có thể sẽ không bao giờ bị trùng lập,” nhưng sẽ có nhiều thứ để học hỏi thêm, giáo sư nói về độ dài của cuộc nghiên cứu.

 

“Chúng tôi đang cố gắng nhìn cách mà mọi người xử lý sự căng thẳng, khi cơ thể họ đang ở trong tình trạng chống lại hay bỏ chạy. Chúng tôi muốn tìm ra thế nào mà một tuổi thơ khó khăn qua nhiều thế kỉ có thể huỷ hoại cơ thể trong độ tuổi trung niên và sau đó nữa,” giáo sư chia sẻ thêm.

 

Lara Tang’18, chuyên về loài người và tiến hoá sinh học, vừa gia nhập đội ngũ nghiên cứu với vai trò trợ lý nghiên cứu, rất thích thú trước cơ hội được góp tay tìm ra lý giải cho những câu hỏi trên. Cô đã tham gia nỗ lực này sau tình cờ được xem buổi diễn thuyết trên TED Talk của giáo sư Waldinger trong một lớp học của cô.

 

“Cuộc nghiên cứu này đã thúc đẩy tôi làm thêm nhiều ngiên cứu về sự phát triển của những người trưởng thành,” cô Tang nói. “Tôi muốn biết những trải nghiệm tuổi thơ có ảnh hưởng như thế nào trong quá trình phát triển thể chất, tinh thần, và hạnh phúc trong cuộc sống về sau.”

 

Khi được hỏi ông học được những điều gì từ cuộc nghiên cứu này, giáo sư Waldinger, người là một vị tu thiền Zen, trả lời rằng ông thực tập thiền định mỗi ngày và dành thời gian và năng lượng cho những mối quan hệ của ông nhiều hơn trước.

 

“Rất dễ dàng để cô lập bản thân, để chạy theo công việc và quên hết mọi thứ, ‘Ồ, tôi chưa bao giờ gặp những người bạn của mình suốt một thời gian dài,’” giáo sư Waldinger chia sẻ. “Nên tôi cố gắng chú ý vào các mối quan hệ của mình hơn trước kia.”